Thương mùa đay cũ
Sớm mai thức dậy, nhìn vạt nắng rót mật vàng khẽ chạm vào bậu cửa, tôi chợt có cảm giác như thời gian đang nhẹ nhàng trôi qua kẽ tay. Ký ức ào ạt ùa về, đưa tôi trở lại với những mùa hạ xưa yêu dấu. Nơi ấy có tiếng ve râm ran trong vòm lá, có ánh nắng rực rỡ chan hòa và cả những cơn mưa rào bất chợt... Nhưng đó cũng là những mùa hạ nhọc nhằn, ôm trọn suốt những năm tháng tuổi thơ tôi.
Với trẻ em thời nay, mùa hạ có lẽ là khoảng thời gian được mong chờ nhất để gấp lại sách vở, xê dịch và tận hưởng những chuyến du lịch bên gia đình. Nhưng với tuổi thơ của chúng tôi – thế hệ 7X đời đầu – mùa hạ lại gắn liền với những công việc nhà nông vất vả nơi ruộng đồng. Ngày ấy, khi những cánh phượng hồng bắt đầu khoe sắc giữa bầu trời trong xanh, tiếng ve râm ran hòa cùng ánh nắng chói chang báo hiệu mùa thi vừa kết thúc, cũng là lúc tôi gấp lại sách vở, tạm biệt bảng đen phấn trắng để bước vào mùa vụ.
Ngày nào cũng vậy, để tránh cái nắng như thiêu như đốt, tôi thường thức dậy từ lúc mờ đất. Trong bộ quần áo lao động rộng thùng thình – vốn là tấm áo nâu sồng thấm đượm mùi mồ hôi của mẹ – tôi mang theo đôi găng tay, con dao rồi dắt chiếc xe cải tiến quen thuộc ra đồng tỉa đay.
Quê tôi lúc đó trải dài một màu xanh ngút ngàn của đay. Những thân đay mọc thẳng đứng, cao vút, che khuất cả dáng người. Tôi lớn lên giữa những mùa đay như thế, quen từng chiếc lá xẻ thùy hình chân vịt, quen sắc hoa vàng tâm đỏ lay nhẹ trong gió hạ trước khi kết thành những chùm quả nang chi chít hạt. Người ta chuộng cây đay bởi lớp vỏ dai, bền, vốn là nguyên liệu tuyệt vời để dệt vải thô, làm bao tải, vặn thừng, đan chiếu...
Công việc tỉa đay nhọc nhằn lắm. Tôi len lỏi vào từng hàng đay ken dày, mồ hôi mồ kê nhễ nhại, lựa tỉa những cây thấp, bé, kéo ra rãnh luống, phát sạch ngọn rồi bó lại, lôi ra bờ ruộng, chất lên xe cải tiến để chở về.
Về đến nhà, cây đay được phân loại kỹ càng. Những cây bé nhất được chặt gốc, phạt ngọn cho bằng nhau chằn chặn rồi đem phơi dưới nắng gắt cho khô. Chúng sẽ được dùng làm dây bó khi mùa thu hoạch đay chính thức đến hoặc làm lạt buộc mạ lúc vụ cấy bắt đầu. Còn những cây to hơn, tôi cẩn thận tước lấy lớp vỏ dẻo dai, đem phơi làm nguyên liệu vặn thừng. Phần thân đay sau khi trơ lõi cũng được phơi khô, tích trữ làm củi đun bếp.
Rồi ngày mùa chính thức bắt đầu.
Cả làng tôi khi ấy rộn ràng hẳn lên. Người người, nhà nhà gọi nhau thức dậy từ lúc gà chưa gáy. Tiếng bước chân thình thịch, tiếng í ới gọi nhau hòa cùng tiếng lách cách của dao, của dây buộc, của những chiếc xe cải tiến tấp nập kéo ra đồng.
Trước đó khoảng chục ngày, các ruộng đay đã được tháo nước vào cho ngập đến lưng ống chân để thân đay ngậm nước, giúp vỏ dóc ra, dễ tước hơn. Chính vì vậy, việc chặt đay đồng nghĩa với việc phải lội bì bõm dưới bùn nước. Khi chặt, người ta phải đứng dạng hai chân cho vững, cúi khom người, một tay túm ngang thân cây đay, một tay đưa lưỡi dao phạt sát mặt đất. Người lớn vẫn thường nhắc nhau phải phạt cho gốc đay thật bằng, không được để vạt chéo như hình mũi mác, bởi nếu vô tình dẫm phải, những chiếc “chông đay” nhọn hoắt ấy có thể đâm toạc bàn chân.
Tôi theo mẹ ra đồng, nhận phần việc của mình: ôm những cây đay đã được chặt, phạt sạch lá, bó lại thành từng bó nhỏ gọn gàng rồi ghì vai vác lên bờ ruộng. Công việc khiến một đứa trẻ gầy gò như tôi vừa mệt rã người, vừa ngứa đến phát điên vì thân lá đay cào xước, vì sâu róm. Đã thế, lúc nào tôi cũng ướt lướt thướt từ đầu đến chân như chuột lột, bùn đất lem luốc cả khuôn mặt.
Thấy tôi ôm bó đay to quá sức, bước đi loạng choạng giữa nước bì bõm, mẹ dừng tay dao, quệt vội giọt mồ hôi trên trán rồi đỡ lấy gánh nặng trên vai tôi, khẽ nhắc:
“Con bó nhỏ thôi, đi làm nhiều chuyến. Đừng tham bó to, sức con không vác nổi đâu. Ngã thì khổ.”
Mẹ cùng tôi lên bờ ngồi nghỉ. Mẹ đưa cho tôi chiếc nón rách để quạt và nửa củ khoai lang luộc còn vương mùi khói bếp. Nhìn lưng áo mẹ đẫm mồ hôi, sẫm lại một màu nâu sồng, nghĩ đến dáng mẹ lầm lũi rạp người giữa ruộng đay mênh mông, sống mũi tôi bỗng cay xè.
Mùa hạ nhọc nhằn của tôi, hóa ra lại là cả một đời oằn gánh gian truân của mẹ.
Thời gian chẳng đợi chờ ai, nên mẹ con tôi cũng chỉ nghỉ chốc lát cho lại sức, ăn vội củ khoai, uống ngụm nước vối rồi lại tất tả với công việc. Khi nắng bắt đầu “quái tính” như muốn bẻ gãy sức người, cũng là lúc những chuyến xe cải tiến chất đầy đay cao ngất ngưởng lăn bánh về làng.
Tôi gắng sức đẩy chiếc xe chở đầy đay giúp mẹ, lòng thầm nghĩ về những công đoạn tiếp theo – những ngày đập đay, tước sợi, ngâm, giặt... – vẫn còn đầy gian nan phía trước. Những sợi đay óng ả ấy rồi sẽ được làm nên từ chính những giọt mồ hôi mặn chát của chuỗi ngày hè nắng rát.
Những công việc ấy nhiều khi khiến tôi mệt đến rã rời. Có lúc, tôi chỉ biết ngồi phệt xuống bờ cỏ, mắt trông theo những bóng người thưa thớt chạy xe qua lại trên đường, thầm ước mình sẽ học thật giỏi, sẽ lớn lên thật nhanh để bước chân ra khỏi vùng quê nghèo khó, lên thành phố sống một cuộc đời đỡ nhọc nhằn hơn.
Những lúc ấy, như nhìn thấu sự mệt mỏi và khát vọng trong mắt tôi, mẹ thường khẽ vuốt tóc, dịu dàng động viên:
“Cố lên con! Sắp xong rồi. Mùa hè qua đi, con lại được cắp sách đến trường. Rồi mai này, ước mơ của con nhất định sẽ thành hiện thực.”
Tôi không nói, nhưng trong lòng trào dâng một quyết tâm mạnh mẽ. Thân hình gầy guộc, ánh mắt hiền từ, bàn tay khô ráp đầy những vết xước của mẹ chính là động lực lớn nhất đối với tôi. Tôi hiểu rằng, đằng sau lời động viên ấy là cả một khoảng trời hy vọng mẹ gửi gắm. Mẹ mong con mình không phải lặp lại cuộc đời “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”.
Giọt mồ hôi của mẹ rơi xuống nền đất nóng bỏng, hòa cùng cái nắng chang chang của mùa hạ năm ấy, cứ thế thấm đẫm vào từng trang sách tôi lật mở sau này.
Để rồi hôm nay, khi đã đi qua những ngày dông bão, thực hiện được ước mơ đứng giữa thành thị đèn hoa rực rỡ, tôi lại thèm đến cháy lòng cái cảm giác được ngồi phệt bên bờ cỏ quê hương. Tôi thèm được nghe lại tiếng củi đay nổ tí tách trong gian bếp ám khói, thèm cái ôm siết cùng lời vỗ về dịu ngọt của mẹ trong một buổi trưa hè đầy nắng gió.
Giữa phố thị thênh thang, bước chân người vội vã, bất chợt từ một góc phố, đài nhà ai đó vang lên câu hát thân thương:
“Trên cánh đồng đay, con chim chiền chiện Nó hót rằng bà con ta có biết Cánh đồng đay ta tung cánh mà bay Bay bay khắp đó đây Bay từ quê ta mà bay qua các nước...”
Giai điệu “Chim hót trên đồng đay” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý như một chiếc thoi đưa, dệt lại những sợi nhớ, sợi thương, kéo tôi trở về với mùa hạ cũ.
Nơi ấy có cả một thời gian khó nhưng lấp lánh nghĩa tình, có bóng hình của mẹ, có tuổi thơ tôi và có cả linh hồn của một vùng quê lớn lên từ những bờ bãi đay xanh...






