Kẻ đeo mặt nạ

– Khi tản văn mượn linh hồn của siêu thực.

Kẻ ấy chẳng hề rời bỏ tôi, có lẽ đến tận cuối đời. Đó là kẻ đeo mặt nạ. Tôi đã khao khát đến sẵn sàng đánh đổi mọi thứ để được một lần nhìn thấy cái mặt thật sau cái mặt nạ ấy.

Có một thời gian dài gần hai mươi năm, tôi thường có một cơn ác mộng kinh dị và nặng nề nhiều lúc ngạt thở tưởng mình sẽ chết ngay trong những đêm đó. Trong những cơn ác mộng đó, một kẻ đeo mặt nạ săn đuổi tôi. Săn đuổi nhưng không trực tiếp giết tôi. Săn đuổi với một nụ cười không bao giờ tắt mà lại làm tôi hoảng sợ và mang một cảm giác giống như một người biết chắc trong mình mang một căn bệnh nan y mà không biết phát ra lúc nào.

Một chiếc mặt nạ không thay đổi cảm xúc. Không phải một chiếc mặt nạ có đôi mắt đỏ lòm hay một cái miệng đầy răng nhọn như răng bọn ma cà rồng. Không phải một chiếc mặt nạ phừng phừng nổi giận hay xanh lét như một hồn ma. Mà là một chiếc mặt nạ có vẻ mặt thật nhẹ nhõm với một đôi mắt chỉ có lòng đen, một đôi môi đỏ chót và lúc nào cũng mỉm cười.

Tôi cảm thấy có ai đó đang nhìn tôi từ phía sau. Cái nhìn giống như một mũi khoan máy khoan thẳng vào gáy tôi. Tôi hoảng hốt quay lại và nhận ra một kẻ đứng trước mặt tôi với một chiếc mặt nạ. Một người không quen hay một người quen? Tôi không thể nào biết. Vì vậy, tôi bỏ đi. Và kẻ đeo mặt nạ bắt đầu đi theo tôi. Tôi vội dừng bước và quay lại. Chiếc mặt nạ mỉm cười với tôi. Tôi nghĩ ai đó quen biết mình đang trêu đùa mình. “Người là ai? Có việc gì không?”, tôi cất tiếng hỏi. Chiếc mặt nạ không trả lời tôi, cái mặt không hề có một chút gợn đổi thay, chỉ cười và cũng không hề lúng túng hay bỏ đi. Tôi có vẻ cáu: “Thôi đừng đùa nữa, có chuyện gì thì nói đi”. Không trả lời, không nhún vai hay huơ tay. Chỉ mỉm cười. Tôi vừa khó chịu, vừa khó hiểu và vừa sờ sợ.

Tôi rảo bước thật nhanh và rẽ vào một lối ngõ. Kẻ đeo mặt nạ vẫn bám theo tôi với một khoảng cách chính xác không hề thay đổi. Trong khi đi như trốn chạy, tôi nhìn thấy một khoảng tối trong ngõ nhỏ và ẩn mình vào đó. Kẻ đeo mặt nạ bước từng bước từ tốn về phía tôi. Tôi nghĩ hắn sẽ không thể nào biết được tôi đang nấp trong khoảng tối đó. Nhưng khi bước chân hắn vừa đặt xuống ngang nơi tôi ẩn mình thì đột ngột hắn quay người đối diện với tôi. Tôi lạnh người vì kinh sợ. Tôi thở gấp và đầu buốt nhức vì máu không kịp nhồi lên não. Tôi thu mình lại. Tôi cảm thấy kiệt sức và tuyệt vọng khi nghĩ không còn lối thoát nào cho mình nữa.

Tôi từ từ nhắm mắt lại chờ một cái gì đó khủng khiếp xảy đến. Một mũi dao nhọn hoắt đâm xuyên ngực tôi chẳng hạn. Nhưng quanh tôi chỉ có sự im lặng như tất cả sự sống này đã chấm dứt từ lâu rồi. Sau một hồi nghĩ kẻ đeo mặt nạ đã bỏ đi, tôi hé mắt. Kẻ đeo mặt nạ vẫn đứng đó nhìn tôi. Đôi mắt toàn lòng đen và đôi môi đỏ chót mỉm cười làm tôi hoang mang tột độ bởi tôi không làm sao có thể xác định được cảm xúc của hắn và không biết hắn sẽ làm gì với tôi.

Tôi vùng bỏ chạy. Càng chạy tôi lại càng nghe tiếng chân của hắn vang lên ngay phía sau tôi đều đều như không để tôi chạy thoát, nhưng lại không gần hơn và cũng không xa hơn.

Tôi chạy vào phòng và đóng chặt cửa. Tim tôi đang đập bình thường trở lại. Khi yên trí cửa đã khóa chặt, tôi quay vào định nằm xuống giường nghỉ vì quá mệt mỏi và căng thẳng. Và… tôi kinh hoàng tưởng vỡ tim khi nhận ra kẻ đeo mặt nạ đang đứng ở góc phòng nhìn tôi từ lúc nào. Tại sao kẻ đeo mặt nạ lại vào được phòng tôi. Đôi mắt toàn lòng đen, đôi môi đỏ chót và chỉ mỉm cười.

Tôi nghĩ đêm tối sẽ giúp tôi xóa đi cái mặt nạ ấy. Nhưng cả những đêm tối đen nhất và tôi đã trùm chăn kín đầu thì kẻ đeo mặt nạ vẫn đứng trước tôi rõ như ban ngày. Đầu óc tôi bắt đầu có rối loạn và có dấu hiệu của bệnh tâm thần. Tôi nghĩ đến một ngày nào đó mình sẽ phát điên. Giá kẻ đó tháo chiếc mặt nạ ra, tím hay đỏ mặt giận dữ và đe dọa tôi, hoặc kể cả rút một con dao chọc tiết lợn đâm tôi thì có lẽ tôi còn thấy dễ chịu hơn là một bộ mặt như thế.

– Ngươi là ai? Là ai? Là ai ? – Tôi gào lên.
Kẻ đeo mặt nạ không hề phản ứng gì, chỉ mỉm cười với đôi môi đỏ chót.
– Sao ngươi không bỏ cái mặt nạ ra? Ngươi sợ à? – Tôi lại gào to hơn.
Vẫn chỉ mỉm cười. Đôi môi đỏ chót bất động.
– Sẽ có ngày ta lột được cái mặt nạ của ngươi ra. Ta sẽ biết người là ai. Ta sẽ giết ngươi – Tôi rít lên.

Chẳng có gì làm kẻ đeo mặt nạ thay đổi sắc mặt. Vẫn đôi mắt toàn lòng đen như luôn luôn vô tư và như luôn luôn chẳng có ẩn ý gì, vẫn đôi môi đỏ chót và chỉ mỉm cười ở mọi nơi, mọi lúc, mọi hoàn cảnh.

Sau khi gào lên như thế, tôi chợt nhận ra tôi chẳng có lý do gì để tấn công hắn. Hắn đâu có tức giận với tôi, đâu có sỉ vả tôi, đâu có đe dọa tôi và đâu có mang vũ khí gì khi đi theo tôi và chưa lần nào hắn chạm vào tôi.

Nhưng tôi khao khát được biết cái mặt thật của hắn sau cái mặt nạ kia đến phát điên lên được. Bởi nếu không biết được sự thật sau cái mặt nạ kia một cách rõ ràng thì còn tồi tệ hơn tất cả.

Nhưng cuối cùng, tôi đã thực hiện được khao khát ấy. Tôi đã tiếp cận được kẻ đeo mặt nạ. Tôi chộp lấy cái mặt nạ của hắn để lật tung ra. Nhưng tôi kinh hãi hơn bao giờ hết khi nhận ra:

"Cái mặt nạ ấy đã dính liền vào da mặt hắn vì hắn đã đeo cái mặt nạ ấy quá lâu. Và ngay cả bây giờ, cho dù chính hắn muốn tháo cái mặt nạ ấy ra thì hắn cũng không thể nào tháo được."

Nguyễn Quang Thiều

Tác giả

Nguyễn Quang Thiều
Nguyễn Quang Thiều Nguyễn Quang Thiều Nguyễn Quang Thiều Nguyễn Quang Thiều Nguyễn Quang Thiều Nguyễn Quang Thiều

Khi tản văn mượn linh hồn của siêu thực

Tôi biết đến Nguyễn Quang Thiều từ một đêm hoa gạo rụng lộp bộp ngoài mái hiên, bằng 1 truyện ngắn chứ không phải thơ: “Thị trấn những cây bàng cụt” in trên Báo Văn Nghệ. Năm ấy là 1991, tính đến nay cũng đã 35 năm trôi qua. Từ đó về sau thỉnh thoảng tôi có nghe thơ ông trong chương trình Tiếng thơ của Đài tiếng nói Việt Nam. Thời bấy giờ đọc báo văn nghệ và nghe truyện đêm khuya là cách quá tốt cho những người học văn, yêu văn như tôi. Và trong những đêm hoa gạo rơi, tôi luôn hình dung về một Nguyễn Quang Thiều trầm mặc, bụi bặm, phảng phất nét nghệ sỹ trên gương mặt.

Tôi nói như vậy để chứng tỏ rằng tuy chưa một lần gặp mặt ngoài đời nhưng tôi luôn coi ông như một người bạn lớn của mình. Tôi ngưỡng mộ ông bởi nhận ra nguồn năng lượng trong các tác phẩm của ông quá mạnh, quá sung mãn…

Mấy hôm trước tình cờ tôi đọc được “Kẻ đeo mặt nạ” trên Fanpage VĂN HỌC CÔNG AN (Trang thông tin của Chi hội nhà văn công an). Trên trang đó có ghi: KẺ ĐEO MẶT NẠ - Tản văn của nhà thơ NGUYỄN QUANG THIỀU (Bài đăng ngày 12 tháng 4 lúc 09:00).

Dựa vào độ dài, cấu trúc và nội dung, tác phẩm "Kẻ đeo mặt nạ" ban đầu chúng ta có thể xếp nó ở thể loại tản văn hoặc truyện cực ngắn (Flash fiction) của văn xuôi. Tuy nhiên, nếu phân loại sâu hơn theo bút pháp và nội dung (Sub-genre), tôi cho rằng "Kẻ đeo mặt nạ" là sự pha trộn xuất sắc của ba thể loại:

1. Truyện kinh dị tâm lý (Psychological Horror)

Tác phẩm không dọa người đọc bằng ma quỷ máu me, mà bằng sự sợ hãi từ bên trong tâm trí. Cảm giác bị theo dõi bởi một kẻ giấu mặt, nụ cười đỏ chót không bao giờ tắt, sự bất lực khi trốn chạy và cảm giác ranh giới giữa thực tại và sự điên loạn đang mờ dần ("Đầu óc tôi bắt đầu có rối loạn..."). Đây là đặc trưng kinh điển của văn học kinh dị tâm lý: nỗi sợ đến từ những điều bất định và không thể lý giải.

2. Văn xuôi siêu thực (Surrealism)

Tác giả sử dụng các chi tiết phi logic và mang đậm tính chất của một giấc mơ (ác mộng). Kẻ đeo mặt nạ xuất hiện ở mọi nơi, trong ngõ hẻm, trong phòng kín, khoảng cách bám theo luôn không đổi dù nhân vật có chạy nhanh đến đâu. Không gian tác phẩm là một không gian ngột ngạt, phi thực tế, đại diện cho những góc khuất trong tiềm thức con người.

3. Ngụ ngôn hiện đại / Truyện triết lý (Modern Allegory)

Đây là giá trị cốt lõi của tác phẩm. "Chiếc mặt nạ" là một biểu tượng ẩn dụ (metaphor) sắc bén cho sự giả tạo, những lớp vỏ bọc mà con người tự khoác lên mình để đối phó với xã hội. Chi tiết gây rùng mình nhất ở cuối truyện - "Cái mặt nạ ấy đã dính liền vào da mặt hắn vì hắn đã đeo cái mặt nạ ấy quá lâu" - mang một bài học triết lý sâu sắc: Khi bạn đóng kịch và giả tạo quá lâu, lớp mặt nạ sẽ ăn mất con người thật của bạn, và bạn sẽ vĩnh viễn đánh mất chính mình.

Nếu như ban đầu chúng ta có thể xếp nó ở thể loại tản văn hoặc truyện cực ngắn thì sau khi dừng lại ở những chi tiết tình huống phi logic, siêu thực… hay nói đúng hơn là sản phẩm của hư cấu thì tôi chợt nghĩ: nếu đặt “Kẻ đeo mặt nạ” vào hạng mục tản văn thì vô hình trung tác phẩm đã phạm phải 1 trong những quy tắc khá ngặt nghèo của thể loại này: Không hư cấu trong tản văn. Tất nhiên có thể chúng ta phải xác định lại thế nào là hư cấu, hư cấu không hoàn toàn đồng nhất với tưởng tượng.

Tôi đã suy nghĩ rất lâu về vấn đề này. Ở trong một phạm vi nào đó thì có thể sự hư cấu sẽ đẩy tản văn lên 1 ngưỡng cao hơn thoát ra khỏi những đề tài và ý tưởng xưa nay vẫn. Sự tưởng tượng trong hư cấu ngoài nhiệm vụ mô phỏng hiện thực thì nó còn vượt qua mô phỏng để sáng tạo.

Tôi không mang tấm áo tản văn ra để soi chiếu “Kẻ đeo mặt nạ” vì tác phẩm đã thoát ra khỏi các nguyên tắc ràng buộc. Thông điệp của nó làm tôi quên không còn để tâm đến đâu là tản văn, đâu là truyện ngắn. Một bản cáo trạng xuất sắc và đầy ám ảnh về sự tha hóa của con người, một văn bản mang đậm tính hiện sinh.

Đọc “Kẻ đeo mặt nạ”, tôi đi từ cảm giác ngột ngạt, hồi hộp đến sự lạnh gáy, và cuối cùng là một nỗi buồn sâu thẳm.

Nỗi sợ hãi phi truyền thống: Sự đáng sợ của thái độ "vô can"

Nguyễn Quang Thiều đã rất cao tay khi từ chối việc sử dụng những chất liệu kinh dị rẻ tiền (răng nhọn, mắt đỏ, ma cà rồng hay sự giận dữ). Nỗi sợ hãi trong truyện được đẩy lên tột độ chính nhờ sự phi cảm xúc của chiếc mặt nạ: "Một đôi mắt chỉ có lòng đen, một đôi môi đỏ chót và lúc nào cũng mỉm cười." Trong văn học và tâm lý học, nụ cười không bao giờ tắt ở mọi nghịch cảnh chính là biểu hiện của sự méo mó, giả tạo đến rợn người. Nó đại diện cho những con người trong xã hội hiện đại: giấu nhẹm mọi hỉ nộ ái ố, đối phó với đồng loại bằng một thái độ lịch sự nhưng trống rỗng và lạnh lẽo. Nhân vật "tôi" sợ hãi vì anh ta không thể đọc vị được kẻ đối diện. Sự bất định đó bào mòn tâm trí con người ghê gớm hơn bất kỳ sự đe dọa vật lý nào.

Cuộc rượt đuổi vô hình: Đối diện với cái bóng của chính mình

Chi tiết đắt giá thứ hai là khoảng cách của cuộc rượt đuổi: "âm thanh vang lên ngay phía sau... không gần hơn và cũng không xa hơn", và việc kẻ đeo mặt nạ có thể xâm nhập vào phòng kín lúc nào không hay. Dưới góc độ phân tâm học, "kẻ đeo mặt nạ" không phải là một thực thể bên ngoài, mà chính là phần tối (shadow), là cái tôi giả tạo, hoặc là sự lừa dối mà nhân vật đang mang vác. Ta không thể chạy trốn khỏi chính mình. Càng cố giấu mình vào góc tối, che đậy bằng những lớp lang phòng vệ (đóng chặt cửa, trùm chăn kín đầu), phần giả tạo ấy càng hiện lên rõ nét và phình to ra, nuốt chửng lấy tâm trí ta.

Bi kịch tột cùng: Sự bức tử "bản ngã"

Đoạn kết của tác phẩm không chỉ là một cú twist (bất ngờ) gây sốc, mà là một tiếng thở dài đầy triết lý: "Cái mặt nạ ấy đã dính liền vào da mặt hắn vì hắn đã đeo cái mặt nạ ấy quá lâu." Đây là thông điệp mang sức nặng ngàn cân. Khi con người bắt đầu thỏa hiệp với sự giả dối, khoác lên mình lớp mặt nạ để sinh tồn, để lấy lòng người khác, hay để che đậy sự yếu đuối, họ nghĩ rằng mình có thể tháo nó ra khi về nhà. Nhưng tác giả đã chỉ ra một sự thật tàn khốc: Sự giả tạo có tính ăn mòn. Đeo mặt nạ đủ lâu, nó sẽ hút cạn máu thịt của con người thật, đồng hóa và trở thành chính gương mặt của kẻ đó. Khi khao khát tìm lại bản ngã trỗi dậy, thì đã quá muộn sinh thể ấy đã trở thành một cỗ máy mỉm cười vô hồn.

Tác phẩm mang màu sắc của Franz Kafka (sự phi lý, ngột ngạt) pha trộn với Edgar Allan Poe (sự hoang tưởng tâm lý). Nó gõ một hồi chuông cảnh tỉnh vào lương tri người đọc: Chúng ta đang sống với khuôn mặt thật của mình, hay đang nuôi dưỡng một chiếc mặt nạ chờ ngày nó ăn mất chính ta?

Quay trở lại vấn đề hư cấu. Trong tác phẩm này, hư cấu không chỉ là một gia vị mà là xương sống của toàn bộ cốt truyện. Có thể chỉ ra ba nhóm tình tiết hư cấu tiêu biểu:

  1. Sự phi lý về không gian và thời gian: Kẻ đeo mặt nạ xuất hiện ở mọi nơi: từ ngõ hẻm tối đến phòng ngủ đã khóa chặt cửa. Việc một thực thể có thể vượt qua các rào cản vật lý (cửa khóa) mà không cần phá hủy chúng là một tình tiết hư cấu siêu thực điển hình. Khoảng cách rượt đuổi luôn "chính xác không đổi" bất kể nhân vật "tôi" chạy nhanh hay chậm. Đây là logic của những cơn ác mộng chứ không phải logic của đời thực.
  2. Sự biến dạng về nhân chủng học (Sinh học phi thực): Chi tiết chiếc mặt nạ dính liền vào da mặt, không thể tháo rời dù chính chủ thể muốn tháo. Đây là sự hư cấu mang tính ngụ ngôn. Trong thực tế, không có một vật chất nhân tạo nào có thể "hóa thân" vào cơ thể sinh học một cách vĩnh viễn và hoàn hảo như vậy theo thời gian.
  3. Sự hiện diện trong bóng tối: Tình tiết "cả những đêm tối đen nhất và tôi đã trùm chăn kín đầu thì kẻ đeo mặt nạ vẫn đứng trước tôi rõ như ban ngày". Ở đây, đối tượng không còn là một con người bằng xương bằng thịt mà đã trở thành một ảo giác hoặc một thực thể siêu nhiên được hư cấu hóa để đại diện cho sự ám ảnh.

Vậy tại sao tác phẩm này lại được xếp vào thể loại tản văn? Tôi cho rằng xuất phát từ "Cái tôi" trần thuật. Tác giả sử dụng ngôi thứ nhất (Tôi) và lối viết thiên về biểu cảm, bộc lộ nội tâm, vốn là đặc sản của tản văn.

“Kẻ đeo mặt nạ” là một ví dụ điển hình cho sự giao thoa thể loại. Tác giả mượn "hình thức" của tản văn (sự bộc bạch, lối tâm tình, tính chất tự sự cá nhân) để chuyên chở một "nội dung" hư cấu đậm đặc. Điều này tạo ra một cảm giác đánh lừa: người đọc tưởng như đang nghe một lời thú tội thật sự, nhưng thực chất đang bước vào một mê cung của những biểu tượng giả tưởng.

Nhưng khi một tác phẩm đã đạt đến tầm mức ám ảnh và có sức gợi triết lý sâu sắc như Kẻ đeo mặt nạ, thì việc cố gắng ép nó vào một khuôn mẫu thể loại đôi khi lại là một sự "áp đặt" làm hẹp đi biên độ tiếp nhận của độc giả.

Và cũng từ tác phẩm này, tôi hình dung ra xu hướng của văn học hiện đại:

  • Sự xóa nhòa ranh giới (Genre Blurring): Trong văn học hậu hiện đại, ranh giới giữa hư cấu (fiction) và phi hư cấu (non-fiction) thường xuyên bị xóa nhòa.
  • "Cái tôi" trần thuật là một mặt nạ nghệ thuật: Việc sử dụng giọng văn tản văn giúp tác giả thiết lập một mối quan hệ gần gũi, riêng tư với người đọc, khiến thông điệp về sự giả tạo không còn là một bài giảng đạo đức khô khan mà trở thành một trải nghiệm cá nhân đầy đau đớn.
  • Giá trị của sự "Bất quy tắc": Trong nghệ thuật, những tác phẩm sống lâu nhất thường là những tác phẩm "khó xếp hàng" nhất. Nếu Kẻ đeo mặt nạ chỉ là một truyện ngắn kinh dị thuần túy, nó có thể chỉ dừng lại ở việc gây sợ. Nhưng khi nó mang dáng dấp của một bài tản văn, một lời thú tội muộn màng nó lại mang sức nặng của một lời cảnh tỉnh về nhân cách.

Và sau cùng khi ranh giới thể loại không còn là rào cản, tác phẩm trở thành một thực thể sống động, tự nó đối thoại với từng độc giả theo cách riêng. Còn tôi dường như đang đối thoại với người thơ làng Chùa. Nhớ những hôm hoa gạo bứt mình rớt xuống vòm khuya, đọc truyện và nghe thơ Nguyễn Quang Thiều.

Hồ Huy

Hồ Huy

Biên tập & Bình luận

Editorial design by Ho Huy