Mẹ và bát cháo ngó khoai
Nội dung: Mai Tuấn Anh
Thiết kế: Hồ Huy
Có những món ăn đi qua đời người chỉ để lấp đầy một bữa đói, nhưng cũng có những món ăn mang theo ký ức gia đình, thế hệ và đợi chờ không bao giờ khép lại. Bát cháo ngó khoai của mẹ trong đêm mưa năm ấy được nấu từ tháng năm nhọc nhằn, tình mẫu tử cùng nỗi nhớ người lính trẻ đã hóa vào hình hài đất nước. Để rồi nhiều năm sau, điều còn đọng lại không phải là hương vị của cháo, mà là dáng mẹ ngồi lặng im bên ánh lửa, ôm nặng lòng miền thương nhớ.
Năm cuối của thế kỷ trước, sau thời gian chắt chiu, dành dụm, vay mượn và bán đi bao món hàng mẹ mang về từ những ngày đi xuất khẩu lao động ở Liên Xô, gia đình tôi cũng có được một ngôi nhà riêng trên phố Chanh. Phố Chanh – cái tên nghe thật oai, tự hào của lũ trẻ con ngày ấy bởi gần trường học, ủy ban xã, chợ Chanh, việc mua bán, trao đổi đông vui, nhộn nhịp hơn mọi nơi trong xã.
Thực ra phố Chanh vẫn thuộc cùng một làng với nhà bà nội, cách vài bước chân thôi. Ngôi nhà mới cấp bốn nằm trên mảnh đất dài hẹp, phía trước giáp đường, phía sau tựa ủy ban xã. Nhà không có ao, không có vườn, đến một khoảng đất nhỏ để trồng rau cũng xa xỉ. Cuối đất, một bên là nhà vệ sinh, bên kia là chiếc chuồng lợn bé tẹo. Mẹ tôi dáng người nhỏ nhưng thuộc kiểu người lúc nào cũng luôn chân luôn tay. Không luôn chân luôn tay sao được, trong nhà các tàu há miệng luôn trực chờ. Bố bộ đội quanh năm vắng nhà, đồng lương ít ỏi hằng tháng của bố mẹ khó lòng cáng đáng nổi gia đình. “Mẹ con mình mà trông vào lương thì chỉ có mà chết đói à”, mẹ vẫn thường nói như vậy.
Không có ao vớt bèo nuôi lợn thì trồng rau. Mẹ tận dụng mảnh đất bỏ hoang phía sau nhà thuộc đất xã trồng khoai nước và rau muống. Nó là nơi cực kỳ bẩn, mất vệ sinh vì nước sinh hoạt, nước thải ngày ngày đổ về; lồi lõm, cỏ dại um tùm và ít ai nghĩ có thể trồng được thứ gì. Mặc cho lời ra tiếng vào, mẹ cần mẫn cuốc đất, be bờ, cắm từng ngọn khoai xuống bùn. Mẹ toàn tranh thủ buổi trưa hoặc chiều tối muộn thôi, phần vì ban ngày bận việc trường, phần vì khi ấy ít người. Qua đôi bàn tay mẹ chăm chỉ, những luống rau cứ xanh dần, xanh dần cho đến một ngày phủ kín khoảng đất hoang trước đây. Đàn lợn nhờ thế đỡ tốn đi biết bao tiền cám.
Không biết bao lần bố càm ràm, mẹ ở ngoài bãi rau còn nhiều hơn ở nhà, chăm lợn hơn chăm người. Mẹ lặng im, mà thay vào đó cúi xuống tiếp tục công việc dang dở. Rau xanh non, tốt tươi, đàn lợn ăn không xuể, mẹ cắt thành từng bó lớn, sáng mai chạy chợ sớm. Những bó rau rọc khoai chẳng đáng giá bao nhiêu giữa vùng quê, nhà nào cũng trồng hoặc mọc lan đầy rẫy bờ mương, bờ ao, nhưng từng đồng lẻ lặng thầm lớn lên thành sách vở, học phí của anh em tôi. Có hôm mệt quá, mẹ mới gọi hai đứa con ra phụ. Tôi giữ tay lái chiếc xe đạp cũ, mẹ chất từng bó rọc khoai to đùng lên xe, đứa em nhỏ lẽo đẽo theo sau. Con đường ra chợ hôm ấy dường như dài hơn bây giờ rất nhiều, bởi trên vai mẹ gánh thêm biết bao nhọc nhằn mà lũ trẻ chúng tôi chưa thể hiểu hết. Rọc khoai và rau muống lắm lúc bị người ta cắt trộm, mẹ biết nhưng không làm to chuyện hay trách cứ ai.
Vòng quay cuộc sống cứ thế trôi đi cho đến một đêm mưa mùa hạ. Mưa đổ xuống trắng trời sau nhiều ngày oi ả, sấm chớp đùng đoàng, điện mất từ đầu tối. Dưới ánh đèn dầu leo lét hòa cùng ánh lửa bập bùng từ bếp củi, gian bếp nhỏ trở nên ấm hơn trong đêm mưa lạnh. Mẹ ngồi nhặt những ngó khoai ngứa vừa hái ngoài bãi. Đôi bàn tay đầy những vết thâm đen vì năm tháng ngâm bùn nước. Mẹ tước ngó khoai từng lớp vỏ mỏng như tơ sen, bẻ thành từng đoạn nhỏ bằng ngón tay. Nhựa khoai bám đầy trên tay, mẹ kỳ đi kỳ lại bên hòn đá mài cạnh giếng mà màu đen ngoan cố đâu chịu rời khỏi da thịt.
Mẹ bắc bếp, rang sơ mớ ngó khoai rồi tra mắm muối. May lắm bữa đó còn sót chút mỡ lợn dưới đáy âu, mẹ nghiêng đi nghiêng lại, thi thoảng vỗ vỗ nhẹ, mãi mới dốc ra được vài giọt trắng đục. Thế nào mẹ cũng cho thêm tí mắm tôm, chút mẻ vàng, vài nhánh tỏi đập dập, đổ nước xâm xấp và nhóm lửa liu riu. Một lúc sau, mẹ cẩn thận đổ nửa bơ gạo đã ngâm từ trưa vào nồi. Lửa phải đủ nhỏ để cháo không trào, không bén đáy nồi, thỉnh thoảng mẹ dùng đũa cả khéo léo đảo nhẹ một vòng. Ngồi chờ đến khi cháo chín, mẹ ra bờ giếng lấy một nắm rau ngổ rửa sạch, hái từ ruộng muống đem vào bỏ nồi, khuấy đều, rau chín nhanh. Mẹ bắc nồi cháo, múc đầy mỗi bát ô tô nhỡ. Mẹ kì công, hì hục cả buổi được đền đáp xứng đáng bằng mùi thơm từ bếp lan ra căn nhà nhỏ, vậy mà hai đứa con cùng lắc đầu nguầy nguậy. “Con không ăn rau lợn đâu”, hai anh em tôi nhất quyết không chịu động đũa vào bát cháo đang khói nghi ngút.
Mẹ không mắng, cũng chẳng trách, mà ngồi xuống nhẩn nha nhâm nhi từng thìa cháo nóng. Bóng mẹ nhỏ xíu dưới ánh lửa bập bùng khiến gian bếp càng trở nên lặng hơn trong tiếng mưa gõ ngoài hiên. Mẹ chậm rãi xúc từng thìa cháo nhỏ, như thể ở bát cháo ấy không chỉ có ngó khoai, rau ngổ, mắm tôm hay nửa bơ gạo độn của một đêm mưa trở gió. Hơi cháo bốc lên bảng lảng dưới ánh đèn dầu yếu ớt hòa quyện mùi bùn non ruộng nước, mùi khói bếp và những tháng năm đói kém tưởng như đã ngủ yên từ lâu cùng ký ức.
Qua ánh lửa bập bùng đêm mưa, lần đầu tiên tôi nhìn thấy nỗi nhớ có hình dáng của nó: nhỏ bé và ngồi trước mặt tôi mang dáng hình mẹ.
Lúc lâu sau, mẹ kể chuyện bà ngoại. Bà nấu cháo ngó khoai ngon lắm, mẹ bảo mình dẫu cố đến mấy cũng chưa bao giờ học được hết cái tài của bà. Quê ngoại là vùng đồi sỏi đá, đất chua cằn cỗi hơn quê nội rất nhiều. Những năm chiến tranh đói kém, bữa cơm độn sắn, độn dong là niềm mơ ước của biết bao gia đình. Cháo ngó khoai, củ sắn, củ dong nuôi lớn các bác, đến mẹ và cậu tôi qua tháng năm thiếu đói. Bác Nghị thích nhất món cháo ngó khoai do chính tay bà ngoại nấu. Bác là anh trai ruột của mẹ. Mới mười sáu, mười bảy tuổi, bác đã tình nguyện lên đường ra trận theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc khi mẹ và cậu còn chưa ra đời. Trước ngày nhập ngũ, bà ngoại chỉ kịp nấu vội cho bác một nồi cháo ngó khoai. Mẹ kể, bà ngoại cứ giục bác ăn thêm bát nữa rồi hãy đi, đường xa, chiến trường biết đến bao giờ mới được ăn món mình thích. Bác mỉm cười, bảo để dành phần cho các em ở nhà. Có lẽ chẳng ai ngờ bát cháo ngó khoai sẽ trở thành bữa cơm cuối cùng của hai mẹ con bên nhau.
Từ đó, hằng năm đến ngày giỗ bác hay mỗi dịp Tết, bà ngoại đều tự tay nấu một nồi cháo ngó khoai đặt lên bàn thờ, với mong ước, hy vọng đợi thêm chút nữa thôi, cánh cổng ngoài ngõ bật mở, người con trai sẽ trở về nhà. Hết mùa này sang mùa khác, hết năm này sang năm khác, nồi cháo vẫn chờ đợi nhưng người ăn cháo thì biệt tin từ thuở ấy. Bà mòn mỏi ngóng trông bác đến tận lúc nhắm mắt xuôi tay. Ông ngoại cũng mang theo nỗi day dứt cưỡi hạc về với bà vài năm sau đó. Kể đến đây, giọng mẹ lạc hẳn. Mẹ im lặng rất lâu. Bát cháo trên tay nguội tự lúc nào mà mẹ vẫn cầm nguyên. Mẹ đang nhớ về người anh trai chưa từng gặp mặt, mẹ đang nhớ đến bà ngoại những năm cuối đời. Qua ánh lửa bập bùng đêm mưa, lần đầu tiên tôi nhìn thấy nỗi nhớ có hình dáng của nó: nhỏ bé và ngồi trước mặt tôi mang dáng hình mẹ. Trong màn đêm, tôi nghe rõ tiếng nấc nghẹn nơi cổ họng mẹ. Ngoài hiên, cơn mưa rơi đều xuống mái ngói cũ kỹ, còn nơi bếp nhỏ, dường như có thêm người lính trẻ vừa ghé ngồi cạnh mẹ tôi bên bát cháo ngó khoai nghi ngút khói.
Với hai anh em tôi, cháo ngó khoai là món ăn làm từ thứ rau lợn nên không ai buồn ngó tới, nhưng với mẹ, có lẽ nó là mùi vị của tuổi thơ. Quê ngoại nghèo xơ xác, những ngày cả nhà quây quần bên bếp lửa và người anh trai đã đi qua tuổi mười bảy mãi mãi không quay trở về. Có những món ăn ghé qua một bữa cơm chìm dần lãng quên, nhưng cũng có những món ăn đủ sức giữ một đời người ở lại với một đời người khác. Bát cháo ngó khoai của mẹ đêm ấy vì thế thơm mùi nhớ thương, đợi chờ.
Trong ký ức của tôi, đêm đó lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất mẹ nấu cháo ngó khoai. Sau này lớn lên, thưởng thức biết bao món ngon vật lạ, tôi vẫn không thể nhớ nổi mùi vị bát cháo năm ấy ra sao. Điều làm tôi vấn vương đến tận bây giờ là dáng mẹ ngồi dưới ánh lửa, vừa ăn từng thìa cháo nóng vừa nhớ về người anh trai, người lính trẻ yên nghỉ nơi chiến trường xa.






