Tản văn

Nhớ thương cơm ngoại nấu

Tác giả Én Nhỏ
Tác giả Én Nhỏ

Dáng hình bà ngoại luôn hiện lên sống động trong tôi, gắn với những bữa cơm thường nhật. Ngọt lịm cả những giấc chiêm bao, khi tôi thấy ngoại đứng bên bếp lửa, lặng lẽ nấu ăn cho cả gia đình.

Gia đình tôi, bốn người, sống cùng ông bà ngoại. Mẹ tôi thạo việc đồng áng nhưng không rành chuyện bếp núc như bà, nên việc cơm nước đều một tay ngoại quán xuyến. Nhà làm nông, trời chưa kịp rạng, bà đã thức dậy trước cả tiếng gà để chuẩn bị bữa sáng cho người lớn kịp giờ ra đồng.

Hầu như chưa bao giờ ngoại muốn đánh thức hai chị em tôi dậy phụ việc. Trong hương cỏ nội quyện mùi sương sớm len vào chái bếp, ngoại bày ra món cơm nếp còn nóng hổi ăn với muối đậu. Có bữa, bà chiên lại phần cơm nguội từ hôm trước cùng ít tỏi đập dập, thơm lừng và hấp dẫn vô cùng. Có hôm chỉ là nồi khoai lang luộc.

Cuộc sống nghèo mà đạm bạc. Tài nấu nướng của ngoại dường như chẳng có nhiều dịp phô bày trong bữa sáng, bởi ở quê, người ta vẫn quan niệm chỉ cần có cái lót dạ để đi làm. Nhưng bữa trưa, bữa chiều thì chưa bao giờ sơ sài, ít nhất là theo cách nghĩ của bà.

Người Á Đông vốn chuộng các món canh trong mâm cơm. Điều kỳ diệu là món nào ngoại cũng nấu ngon. Nào canh chua, canh củ từ, canh bí xanh, bí đỏ, canh rau cải... tất cả đều nấu với cá đồng.

Bà ngoại bên gian bếp gia đình
Trong hương cỏ nội quyện mùi sương sớm, ngoại lặng lẽ nhóm bếp.

Cá chẳng phải mua ngoài chợ. Đó là thành quả của chính “đức lang quân” của bà, người tối tối xắn quần lội đồng, băng qua những con mương, ngụp lặn giữa đìa rau muống để mang về.

Có lần, không nghe tiếng cá quẫy trong chiếc giỏ tre, tôi nằng nặc đòi ông mở ra xem thì bắt gặp mấy con ếch đồng béo mẫm đang ngồi im thin thít. À, nhân nhắc đến chuyện ấy, bạn đã từng nếm món canh củ mì nấu ếch đồng chưa?

Một hương vị mang dấu ấn riêng của vùng đất, đủ sức ở lại rất lâu trong ký ức của những người hay hoài niệm.

Củ Chi bát ngát đồng bãi dưới cái nắng như nung, rất thích hợp để trồng khoai mì. Loại cây này có thể thu hoạch quanh năm, nhưng muốn có củ ngon nhất phải đợi đến tháng Mười, tháng Mười Một âm lịch.

Khách thập phương đến thăm Địa đạo Củ Chi hẳn nhiều người đã từng thưởng thức củ mì hấp, nướng hay luộc chấm muối mè, một thức quà dân dã mà ngon đến nao lòng.

Có lẽ, cũng như nhiều loài cây khác, khoai mì dồn hết tinh túy vào phần rễ, nên trong hình hài mộc mạc vẫn đậm đà vị đất mẹ. Riêng giống củ mì có dáng “bắp chuối” mới cho ra nồi canh ngon đúng điệu. Ngoài ếch đồng, gà ta thả vườn cũng là một lựa chọn khác đối với những gia đình khá giả hơn nhà tôi.

Ếch làm sạch, ướp chút gia vị cùng ít bột nghệ để tạo màu. Củ mì lột vỏ, ngâm nước muối cho sạch nhựa rồi cắt thành từng khúc vừa ăn. Chuẩn bị xong nguyên liệu, bà đặt nồi lên bếp, phi thơm ít tỏi băm với dầu rồi lần lượt cho thịt ếch và củ mì vào xào sơ. Bà bảo làm vậy nguyên liệu sẽ săn chắc, không bị bở khi nấu.

Khi nồi canh vừa chín tới, bà cẩn thận múc ra tô, rắc thêm chút tiêu và vài lá quế, thứ rau nêm tạo nên hương thơm rất riêng. Thịt ếch béo, săn, dai nhẹ; củ mì dẻo bùi, ngọt thanh.

Trộm nghĩ, đó mới thật sự là tuyệt phẩm của ẩm thực dân gian. Càng ít người biết, càng thêm quý. Một hương vị mang dấu ấn riêng của vùng đất, đủ sức ở lại rất lâu trong ký ức của những người hay hoài niệm. Một khi món ăn ấy đã neo vào miền nhớ, có lẽ chẳng dễ gì quên được.

Ông ngoại tôi, cũng như bao người nông dân đất Việt, chưa bao giờ để mảnh vườn hoang hóa. Rau, củ, quả trong bữa cơm hằng ngày đều thấm mồ hôi của ông. Đúng với câu “ông trồng, bà nấu”, làm nên thương hiệu “cây nhà lá vườn”.

Chỉ những thứ lặt vặt bà mới đi bộ sang tiệm tạp hóa trong xóm, hoặc nhờ hàng xóm tiện đường ra chợ mua giúp.

Ai từng tiếp xúc cũng đều tấm tắc khen bà là người phụ nữ khéo léo, vun vén. Ngoại không chỉ xây nên một mái ấm mà còn bồi đắp nếp nghĩ, nếp sống cho con cháu.

“Vét cho sạch chén đi con, bỏ mứa tội lắm.”

Ngoại không bao giờ ưng cái thói bỏ cơm thừa của hai chị em tôi.

Có lần, thấy tôi vừa đi chơi nắng về đã thò tay vào mâm, ngoại nhẹ nhàng nhắc:

“Miếng ăn là miếng tồi tàn. Phải coi nhà còn ai để dành phần, có đâu lựa miếng ngon ăn trước vậy con.”

Bài học ấy theo tôi đến tận bây giờ.

Quanh năm lam lũ đã đành, với người phụ nữ còn thêm bao mùa giỗ chạp. Ngoại thường bâng quơ:

“Người ta ăn thì còn, mình ăn thì hết.”

Lời nhắc ấy không chỉ dành cho chuyện nấu nướng, mà còn dạy con cháu phải đặt trọn tấm lòng vào từng món ăn. Bởi đó cũng là cách thể hiện sự trân trọng với người được mời và với chính gia đình mình.

Niềm vui của người đầu bếp tóc mây ấy chẳng có gì lớn lao hơn nụ cười của người thưởng thức. Ngoại thường mượn chuyện bếp núc để gửi gắm những bài học làm người.

“Cẩu thả làm gì cũng không nên, huống hồ là nấu ăn.”

Đến tận bây giờ, giọng ngoại vẫn như thánh thót đâu đây mỗi khi tôi cầm bút.

Có lúc tôi tự hỏi, ngoại có phải bà Tiên bước ra từ truyện cổ tích không? Sao chỉ bằng những bữa cơm, những món ăn giản dị mà bà có thể gắn kết mọi thành viên trong gia đình keo sơn đến thế?

Ngoại không chỉ xây nên một mái ấm mà còn bồi đắp nếp nghĩ, nếp sống và lòng biết ơn trong mỗi người ở lại.

Bình minh ngày 18 tháng 4 năm 1994 âm lịch, ngoại nhóm lửa nấu cơm trưa. Nồi cơm vừa sôi thì cơn tai biến bất ngờ ập đến. Bữa cơm hôm ấy mãi mãi không thành. Người đầu bếp của gia đình cũng khép lại cuộc đời mình từ đó.

Nghĩa là vĩnh viễn chia xa.

Nghĩa là những món ngon ngoại nấu

chỉ còn trong ký ức.

Những đêm mưa lạnh không còn vòng tay ủ ấm. Những trưa hè oi ả cũng chẳng còn dáng người liêu xiêu ngồi quạt cho tôi ngủ.

Rồi ông ngoại cũng rời nhân gian, đến nay đã ngót mười lăm năm. Hai con người chịu thương chịu khó ấy chắc đã lại song hành nơi một miền khác, nơi tôi chẳng thể tìm đến.

Người ở lại dựng trên mảnh đất cũ một ngôi nhà mới để an hưởng tuổi già. Vườn rau sau nhà nay đã thành căn nhà kho. Mọi thứ đều đổi thay. Chỉ có những bữa cơm sum họp là gia đình tôi vẫn cố gìn giữ như một nếp nhà.

Trùng hợp thay, khi tôi đặt bút viết những dòng này, gia đình cũng vừa làm xong ngày giỗ thứ ba mươi hai của bà.

Tôi chỉ ao ước được một lần nữa thầm thì với ngoại:

“Ngoại ơi! Những món ngày xưa ngoại nấu, thỉnh thoảng nhà mình vẫn làm. Nhưng có lẽ ký ức vị giác của con đã gửi lại nơi miền nhớ, nơi bóng hình ngoại quá đỗi đậm sâu, nên con vẫn luôn thấy thiếu một điều gì chẳng thể gọi thành tên.

Ngoại yên tâm nhé! Cả nhà vẫn nhắc nhau trân quý từng bữa cơm sum họp như lời ngoại từng căn dặn. Chúng con thương và nhớ ngoại nhiều lắm. Ngoại ơi...”